BỐN MÔN ĐỆ VÔ DANH TRONG TIN MỪNG GIĂNG

8/21/2011 10:07:16 PM

Giu-se Lê Minh Thông, Dòng Đa Minh, là tiến sĩ thần học Kinh Thánh, chuyên về Tin Mừng Giăng. Ông đã cống hiến cho hội thánh Chúa rất nhiều tài liệu thần học. Từ những công khó đó, các tài liệu của ông đã góp phần làm cho nhiều Cơ đốc Nhân thay đổi cách nhìn về Thiên Chúa và biết ký thác đức tin vào sự tha thứ viên mãn qua Ngôi thứ Ba đước nói đến trong sách Tin Mừng Giăng - trong đó đã khẳng định Ngài là Con của Thiên Chúa hằng sống! Ban Quản Trị wesite hôm nay xin phép tác giả  Tiến sĩ Giuse Lê Minh Thông,  trân trọng giới thiệu các bài nghiên cứu của ông, hầu cho nhiều người được biết đến tình yêu vô đối của Thiên Chúa cho nhân loại.

 

Dẫn nhập

“Vô danh” (anonymous) ở đây hiểu theo nghĩa “không biết tên riêng”. Theo bản văn Tin Mừng Giăng hiện nay, độc giả không biết tên riêng của một số môn đệ Đức Giêsu. trong Tin Mừng Giăng “môn đệ Đức Giêsu yêu mến” là một môn đệ vô danh, bản văn còn cho biết những môn đệ vô danh khác nữa. Có thể nói đến 4 môn đệ vô danh trong Tin Mừng Giăng:

1) Một trong hai môn đệ ở 1:40.

2) Một môn đệ khác ở 18:15.

3) Một trong hai môn đệ ở 21:2.

4) Môn đệ Đức Giêsu yêu mến (13:23; 19:26; 20:2; 21:7.20).

Phần trình bày sau đây sẽ trích dẫn các nơi những môn đệ vô danh này xuất hiện trong Tin Mừng Giăng. Sau đó sẽ bàn đôi nét về người môn đệ Đức Giêsu yêu mến. Bản văn Tin Mừng Giăng được lấy trong: Bản văn Giăng, Tin Mừng và ba thư, Hy Lạp - Việt.

1) Một trong hai môn đệ ở 1:35-40

Giăng 1:35-41 kể về hai môn đệ của Giăng Báp-tít đi theo Đức Giêsu, đây là hai môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu theo Tin Mừng Giăng:

1:35 Hôm sau, Giăng lại đứng với hai người trong các môn đệ của ông ấy. 36 Và chăm chú nhìn Đức Giêsu đang đi qua, ông ấy nói: “Đây là Chiên của Thiên Chúa”. 37 Hai môn đệ của ông ấy nghe nói thế, họ đi theo Đức Giêsu. 38 Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo, Người nói với họ: “Các anh tìm gì?” Họ nói với Người: “Thưa Rabbi - nghĩa là thưa Thầy - Thầy ở lại ở đâu?” 39 Người nói với họ: “Hãy đến và hãy xem”. Vậy họ đã đến và đã xem nơi Người ở lại, và họ ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. 40 Anrê, anh của Simon Phêrô, là một trong hai người đã nghe Gioan và đi theo Người. 41 Trước hết, ông ấy tìm gặp em mình là Simon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia” – nghĩa là Đấng Kitô.

Theo tiến trình câu chuyện, đoạn văn 1:35-39 trình bày hai môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu xuất phát từ nhóm môn đệ của Giăng Báp-tít . Hai môn đệ này đã đến và xem nơi Đức Giêsu ở và họ đã ở lại với Người. Trình thuật 1:35-39 không quan tâm đến tên của hai môn đệ này. Trong phần tiếp theo (1:40-41), môn đệ Anrê được nêu tên, nhằm chuẩn bị giới thiệu Simon Phêrô, vì Anrê và Phêrô là anh em với nhau. Như thế, một trong hai môn đệ đầu tiên theo Đức Giêsu, không được nêu tên trong bản văn.

Có nhiều giả thuyết về danh tánh người môn đệ vô danh ở 1:35-40. Chẳng hạn, một số tác giả đồng hóa môn đệ vô danh ở 1:37 với môn đệ Đức Giêsu yêu mến. Xem các tác giả: É. COTHENET, “Le quatrième évangile”, trong M.-É. BOISMARD; É. COTHENET, La tradition johannique, 1977, p. 288; É. DELEBECQUE, Évangile de Jean, Texte traduit et annoté, (CRB 23), Paris, J. Gabalda et Cie, 1987, p. 13; R. E. BROWN, La communauté du disciple bien-aimé, 1994, p. 35; F. J. MOLONEY, The Gospel of John, 1998, p. 7. Chi tiết về lập trường của các tác giả này được trình bày trong Người môn đệ Đức Giêsu yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai? tr. 92-99.

Một số tác giả khác từ chối đồng hóa môn đệ vô danh ở 1:35-39 với môn đệ Đức Giêsu yêu mến, vì bản văn 1:35-41 không có những yếu tố cho phép đồng hóa hai nhân vật này với nhau. Nhằm tôn trọng bản văn, chúng tôi xem người môn đệ không được nêu tên ở 1:35-40 là môn đệ vô danh. Không thể đồng hóa môn đệ vô danh ở 1:37 với “môn đệ Đức Giêsu yêu mến” vì môn đệ này chỉ bắt đầu xuất hiện trong Tin Mừng ở ch. 13 với những vai trò khác với môn đệ vô danh ở 1:37. Một môn đệ vô danh khác trong Tin Mừng xuất hiện ở 18:15.

2) “Người môn đệ khác” (18:15)

Sau khi “cơ đội và viên chỉ huy cùng các thuộc hạ của những người Do Thái bắt Đức Giêsu và trói Người lại” (18,12), những gì xảy ra tiếp theo được Tin Mừng Giăng thuật lại ở 18:13-16. Trong đoạn văn này, tác giả nói đến “một môn đệ khác” ở 18,:15-16.

18:13 Trước tiên, họ dẫn Người đến với Khanan. Ông ấy là nhạc phụ của Caipha, người làm thượng tế năm đó. 14 Caipha là người đã đề nghị với những người Do Thái rằng: “Tốt hơn nên để một người chết thay cho dân”. 15 Simon Phêrô và một môn đệ khác (allos mathêtês) đi theo Đức Giêsu. Người môn đệ này (ho mathêtês ekeinos) biết vị thượng tế, ông ấy cùng với Đức Giêsu vào trong sân dinh thượng tế. 16 Còn Phêrô đứng bên cổng, ở phía ngoài. Vậy người môn đệ khác (ho mathêtês ho allos), người quen biết vị thượng tế, nói với chị giữ cổng và dẫn Phêrô vào.

Điều lạ là “người môn đệ khác” ở 18:15-16 xuất hiện trong bối cảnh Đức Giêsu vừa bị bắt. Đức Giêsu bị dẫn đi như một phạm nhân và tất cả các môn đệ khác bỏ chạy, còn Phêrô thì theo Người xa xa, và vì sợ hãi ông đã không ngần ngại chối Thầy. Khác với tâm trạng của tất cả các môn đệ khác đang lo âu sợ hãi, “người môn đệ khác” ở 18:15 như đang ở trong một thế giới khác. Người môn đệ này ra vào dinh thượng tế không gặp khó khăn hay trở ngại gì. Hơn nữa môn đệ này còn nói với chị giữ cổng và dẫn Phêrô vào dinh, nghĩa là các gia nhân cũng biết người môn đệ này là người quen của vị thượng tế. Quan hệ thân quen với vị thượng tế là điều bản văn nhấn mạnh vì được nói đến 2 lần trong hai câu 18:15-16: “Người quen biết vị thượng tế”.

Theo mạch văn, trước hết “người môn đệ khác” cùng đi với Phêrô, kế đến một mình môn đệ này đi vào dinh, Phêrô ở ngoài dinh. Sau đó, người môn đệ này đi ra dẫn Phêrô vào dinh cùng với mình. Làm được điều này là do “quen biết vị thượng tế”. Đây là đặc điểm của “người môn đệ khác”. Một lần duy nhất trong Tin Mừng thứ tư, tác giả cho biết: Đức Giêsu có một môn đệ quen biết vị thượng tế (18:15-16).

Một số tác giả dựa vào kiểu nói: “Người môn đệ khác” (allos mathêtês), cũng dùng cho “môn đệ Đức Giêsu yêu mến” ở 20:2-8, để đồng hoá “môn đệ khác” ở 18:15-16 với “môn đệ Đức Giêsu yêu mến” trong Tin Mừng Thứ Tư. Tác giả M. Hengel tóm kết vấn đề như sau: “Việc đồng hoá ‘người môn đệ khác’ này với người môn đệ được yêu (hoặc Giăng) được các Giáo phụ Hylạp coi là đương nhiên trong cách chú giải của các ngài, và ở một giai đoạn rất sớm, một mạo từ xác định được thêm vào cụm từ không rõ ràng: ‘Người môn đệ khác’ để làm rõ hơn (x. 20:2-8). Dẫu vậy, vấn đề [‘người môn đệ khác’ ở 18:15-16] có phải là môn đệ được yêu hay không vẫn là vấn đề đang tranh cãi, nhưng đại đa số các nhà chú giải, khởi đầu với các Giáo Phụ đã có lý để hướng tới việc đồng hóa này” (M. HENGEL, The Johannine Question, 1989, p. 78-79).

Thực ra, việc đồng hóa “môn đệ khác” ở 18:15-16 với “môn đệ Đức Giêsu yêu mến” gặp không ít khó khăn. Làm thế nào có thể dung hoà giữa “người môn đệ Đức Giêsu yêu mến” ở sát bên cạnh Người trong bữa tiệc ly, và “người môn đệ khác” quen biết vị thượng tế, tự do ra vào dinh thượng tế ngay trong đêm Đức Giêsu bị bắt? Chúng tôi thuận theo lập trường của É. Cothenet và R. Schnackenburg về “người môn đệ khác” như sau:

“Ở 18:15, vấn đề là ‘một môn đệ khác’ dẫn Phêrô vào trong dinh Hanna, bởi vì môn đệ này ‘quen biết vị thượng tế’. Nhiều tác giả dựa vào quan hệ giữa người môn đệ này [môn đệ Đức Giêsu yêu mến] với Phêrô (x. 13:23-25) nghĩ [môn đệ khác ở 18,15] là ‘môn đệ Đức Giêsu yêu mến’. Nhưng bản văn không nói rõ điều này. Đàng khác, người ta biết rằng Đức Giêsu có những người ủng hộ mình cách kín đáo ở Giê-ru-sa-lem, ngay cả trong Thượng Hội Đồng, như Giôxếp, người Arimathê và Nicôđêmô (19:38-39; x. 3:1; 7:50): Một trong số họ có thể đã can thiệp trong trường hợp này [18:15-16]” (É. COTHENET, “Le quatrième évangile”, dans M.-É. BOISMARD; É. COTHENET, La tradition johannique, 1977, p. 285).

R. Schnackenburg cũng cho rằng: “Người môn đệ khác” ở 18:15 là một người ở Giêrusalem như trường hợp Nicôđêm hay Giôxếp người Arimathê. R. Schnackenburg viết: “Cách đọc chính xác, không có mạo từ trước cụm từ ‘một môn đệ khác’ có thể phải thừa nhận rằng: Đó chỉ là một môn đệ nào đó không biết tên. Vì lẽ tất cả các nơi khác, tác giả Tin Mừng đều nói rõ: Người môn đệ được yêu (19:26) hay ám chỉ người môn đệ này (20:2, ‘người môn đệ khác, là người Đức Giêsu yêu mến’), nên điều này càng dễ chấp nhận hơn. Thực vậy, chúng ta có thể biết đến một người khác ở Giêrusalem, người quen biết vị thượng tế, là người thuộc nhóm những người đi theo Đức Giêsu. Cùng với anh và Nicôđêm, Giôxếp người Arimathê, tóm tắt các môn đệ ở Giuđê - Giêrusalem (7:3), Laxarơ và chị em anh ấy ở Bêtania, tổng cộng lại là một nhóm người không phải là không đáng kể. Họ xuất hiện trong phạm vi những người theo Đức Giêsu trong (in) và gần (near) thủ đô [Giêrusalem]” (R. SCHNACKENBURG, “Excursus eighteen: The Disciple whom Jesus Loved”, in Id., The Gospel According to St. John, Commentary on Chapters 13–21, vol. III, 1982, p. 386).

Những nhận định trên không phải là mới, vì từ năm 1959, F.-M. Braun đã cho rằng không thể đồng hóa “người môn đệ khác” ở 18:15 với Giăng, con ông Dêbêđê. Người môn đệ khác này là một trong những người có địa vị (des notables) đã tin vào Đức Giêsu (x. F.-M. BRAUN, Jean le théologien et son évangile dans l’Église ancienne, t. I, Paris, Gabalda, 1959, p. 307-308).

Với những nhận định trên chúng tôi nghĩ rằng: Để tôn trọng dữ liệu của bản văn, nên xem “người môn đệ khác” ở 18:15-16 là một môn đệ vô danh, quen biết vị thượng tế, đó không phải là môn đệ Đức Giêsu yêu mến vì không có những yếu tố trong bản văn cho phép đồng hoá “người môn đệ khác” ở 18:15-16 với “môn đệ Đức Giêsu yêu mến” trong Tin Mừng. Tin Mừng còn nhắc đến một môn đệ vô danh thứ ba ở 21:2.

3) Môn đệ vô danh ở 21:2

Môn đệ vô danh thứ ba là một trong hai môn đệ ở Giăng 21:2. Giăng  21 mở đầu trình thuật Đấng Phục Sinh hiện ra với các môn đệ bên bờ biển hồ Tibêria như sau:

21:1 Sau những điều đó, Đức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở biển hồ Tibêria. Người tỏ mình ra như thế này. 2 Simon Phêrô, Tôma gọi là Điđymô, Nathanaen người Cana miền Galilê, các con ông Dêbêđê và hai người khác thuộc nhóm môn đệ của Người, các ông đang ở với nhau. 3 Simon Phêrô nói với họ: “Tôi đi đánh cá”. Các ông đáp: “Chúng tôi cùng đi với anh”. Họ ra đi và lên thuyền, trong đêm ấy họ không bắt được gì cả.

Trong nhóm môn đệ kể ra ở 21:2, có người môn đệ Đức Giêsu yêu mến, vì người môn đệ này được nói đến ở 21:7: “Người môn đệ – người Đức Giêsu yêu mến – nói với Phêrô: “Chúa đó.” Theo tác giả R. Brown, R. Schanckenburg và một số tác giả khác, người môn đệ Đức Giêsu yêu mến phải là một trong “hai môn đệ khác” nói đến ở Ga 21,2 (x. M.-É. BOISMARD, “Le disciple que Jésus aimait d’après Jn 21,1ss et 1:35ss”,RB 105/1 (1998) p. 78).

Nếu như “môn đệ Đức Giêsu yêu mến” là một trong hai môn đệ không được nêu tên ở 21:2, thì môn đệ còn lại là môn đệ vô danh, độc giả không biết tên người môn đệ này. Bản văn không cho biết người môn đệ vô danh ở 21:2 có phải là người môn đệ không được nên tên ở 1:35-40 hay không. Môn đệ vô danh ở 21:2 có mặt trong nhóm các môn đệ đi đánh cá và bản văn không cho biết gì thêm về người môn đệ này.

4) Người môn đệ Đức Giêsu yêu mến

Người môn đệ vô danh thứ tư trong Tin Mừng Giăng là “người môn đệ Đức Giêsu yêu mến”. Tên gọi này xuất hiện 5 lần trong Tin Mừng Thứ Tư (13:23; 19:26; 20:2; 21:7.20). Người môn đệ này xuất hiện lần đầu tiên trong bữa tiệc ly (13:1-32). Trong 5 lần xuất hiện, 4 lần môn đệ này hiện diện với Phêrô, 1 lần khác chỉ một mình môn đệ này đứng dưới chân thập giá (19:26). Sau đây là năm chỗ người môn đệ Đức Giêsu yêu mến xuất hiện trong Tin Mừng Giăng.

4.1. Trong bữa tiệc ly

Sau những lời dạy của Đức Giêsu về ý nghĩa việc Người rửa chân cho các môn đệ, Giăng 13:21-27 kể về môn đệ Đức Giêsu yêu mến như sau:

13:21 Nói những điều đó xong, Đức Giêsu xao xuyến trong tâm thần. Người làm chứng và nói: “Amen, amen, Thầy nói cho anh em: Một người trong anh em sẽ nộp Thầy”. 22 Các môn đệ nhìn nhau, phân vân không biết Người nói về ai. 23 Có một người trong các môn đệ của Người (ek tôn mathêtôn) đang dùng bữa, tựa vào lòng Đức Giêsu, đó là người Đức Giêsu yêu mến (hon êgapa ho Iêsous). 24 Vậy Simon Phêrô làm hiệu cho ông ấy hỏi xem Thầy nói về ai. 25 Ông này nghiêng mình vào ngực Đức Giêsu nói với Người: “Thưa Thầy, ai vậy?” 26 Đức Giêsu trả lời: “Kẻ đó là người mà chính Thầy chấm miếng bánh và trao cho.” Rồi Người chấm miếng bánh [cầm lấy và] trao cho Giuđa con ông Simon Ítcariốt. 27 Và khi nhận miếng bánh, Xatan liền nhập vào ông ấy. Đức Giêsu nói với ông ấy: “Anh làm gì thì làm mau đi”.

Trong đoạn văn văn này, người môn đệ Đức Giêsu yêu mến có vị trí đặc biệt thân tình với Đức Giêsu: “Tựa vào lòng Đức Giêsu”. Trong khi Phêrô là nhân vật không hiểu Đức Giêsu trong đoạn văn 13,1-32, thì người môn đệ này đặt câu hỏi và Đức Giêsu trả lời, như thể Thầy trò biết rõ về nhau.

4.2. Hiện diện dưới chân thập giá

Tin Mừng Giăng thuật lại những gì xảy ra dưới chân thập giá ở 19:25-27 như sau:

19:25 Vậy đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu của Người và chị của thân mẫu Người, Maria vợ ông Cơlôpát và Maria Mađơlen. 26Khi Đức Giêsu thấy thân mẫu và môn đệ (ton mathêtên) đứng bên cạnh – môn đệ Người yêu mến (hon êgapa) – Người nói với thân mẫu: “Thưa bà, đây là con của bà”. 27 Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh”. Và kể từ giờ đó, người môn đệ đón nhận mẹ về nhà mình.

Đây là biến cố rất đặc biệt dành cho “người môn đệ Đức Giêsu yêu mến”. Khi mà không một môn đệ nào khác được nói đến, thì môn đệ Đức Giêsu yêu mến đứng bên cạnh thân mẫu Đức Giêsu dưới chân thập giá. Tin Mừng Nhất Lãm không nói đến môn đệ nào trong Nhóm Mười Hai có mặt dưới chân thập giá. Hơn nữa, Tin Mừng Giăng đề cao vai trò làm chứng của người môn đệ này về những gì xảy ra khi Đức Giêsu tắt thở (19:25-35). Tác giả nhấn mạnh lời chứng của người môn đệ này ở 19:35: “Người đã xem thấy, đã làm chứng, và lời chứng của người ấy là xác thực; và người ấy biết rằng mình nói sự thật để cả anh em nữa, anh em tin”. “Người đã xem thấy, đã làm chứng” ở đây chính là người môn đệ Đức Giêsu yêu mến chứ không phải là ai khác.

4.3. Sáng sớm ngày Đức Giêsu phục pinh

Mở đầu những gì xảy ra sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần được thuật lại ở 20:1-3:

20,1 Vào ngày thứ nhất trong tuần, Maria Mađơlen đi đến mộ lúc sáng sớm, khi trời còn tối, bà thấy tảng đá đã bị lấy ra khỏi mộ. 2 Bà liền chạy đến với Simon Phêrô và người môn đệ khác (ton allon mathêtên) – người Đức Giêsu thương mến (hon ephilei ho Iêsous) – bà nói với các ông: “Người ta đã lấy Chúa khỏi mộ và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu”. 3 Vậy Phêrô và người môn đệ khác (ho allos mathêtês) đi ra và họ đi đến mộ…

Trong đoạn văn này, 2 lần “người môn đệ Đức Giêsu yêu mến” được gọi là “người môn đệ khác” (ho allos mathêtês). Khi kết thúc trình thuật ở 20:8-9, tác giả cho biết lòng tin của người môn đệ Đức Giêsu yêu mến: “Ông ấy đã thấy và đã tin” (20:8), còn lòng tin của Phêrô không được nói đến trong đoạn văn 20:1-10.

4.4. Đánh cá ở biển hồ Tibêria

Sau khi Đức Giêsu Phục Sinh, Người hiện ra với các môn đệ khi các ông đánh cá ở biển hồ Tibêria. Câu chuyện xảy ra ở 21:4-7:

21:4 Khi trời đã sáng, Đức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó là Đức Giêsu. 5 Đức Giêsu nói với các ông: “Này các con, không có gì ăn ư?” Các ông trả lời Người: “Không”. 6 Người nói với các ông: “Hãy thả lưới bên phải mạn thuyền, và anh em sẽ tìm thấy.” Vậy các ông thả lưới, và rồi không sao kéo lên nổi vì đầy cá. 7 Người môn đệ (ho mathêtês) – người Đức Giêsu yêu mến (ekeinos hon êgapa ho Iêsous) – nói với Phêrô: “Chúa đó”. Simon Phêrô vừa nghe nói: “Chúa đó”, vội khoác áo vào, vì đang ở trần rồi ông ấy nhảy xuống biển.

Trong đoạn văn này, người môn đệ Đức Giêsu yêu mến là người đầu tiên trong nhóm nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh đang đứng trên bãi biển. Bản văn đề cao tương quan mật thiết của người môn đệ này với Đức Giêsu qua sự nhận biết Thầy từ xa và trước nhất.

4.5. Số phận của Phêrô và của môn đệ Đức Giêsu yêu mến

Tác giả kết thúc sách Tin Mừng bằng cách đặt song song số phận của Phêrô và số phận của người môn đệ Đức Giêsu yêu mến. Câu chuyện xảy ra ở 21:18-24. Sau khi trao quyền chăn dắt đàn chiên (21:15-17), Đức Giêsu nói với Phêrô:

21:18 Amen, amen, Thầy nói cho anh: Lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng và đi đến nơi anh muốn. Nhưng khi đã về già, anh sẽ dang tay của anh ra, và người khác sẽ thắt lưng anh và dẫn anh đến nơi anh không muốn”. 19 Người nói điều đó để cho biết bằng cái chết nào ông ấy sẽ tôn vinh Thiên Chúa. Nói xong điều đó, Người bảo ông: “Anh hãy theo Thầy”. 20 Phêrô quay lại, thấy môn đệ (ton mathêtên) – người Đức Giêsu yêu mến (hon êgapa ho Iêsous) – đi theo sau; ông này là người, trong bữa ăn tối, đã nghiêng mình vào ngực của Người và nói: “Thưa Thầy, ai là kẻ nộp Thầy?” 21 Khi thấy người này, Phêrô nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, còn anh này thì sao?” 22 Đức Giêsu nói với ông ấy: “Nếu Thầy muốn anh ấy ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh? Phần anh, anh hãy theo Thầy”. 23 Vậy có lời đồn giữa anh em là người môn đệ ấy không chết. Nhưng Đức Giêsu đã không nói với ông ấy là “anh ấy không chết”, mà là “giả như Thầy muốn anh ấy ở lại cho tới khi Thầy đến [thì việc gì đến anh?]”. 24 Chính môn đệ này là người làm chứng về những điều đó và là người đã viết những điều này, và chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực.

Đoạn văn này cho biết Phêrô sẽ chết để tôn vinh Thiên Chúa, còn môn đệ Đức Giêsu yêu mến sẽ ở lại cho đến khi Đức Giêsu đến. Không phải người môn đệ này không chết về thể lý, nhưng Đức Giêsu muốn nhấn mạnh việc người môn đệ này ở lại mãi trong lời chứng, được thuật lại trong sách Tin Mừng. Bao lâu sách Tin Mừng còn được đọc thì bấy lâu người môn đệ này vẫn ở lại nơi độc giả.

5) Đôi nét về người môn đệ Đức Giêsu yêu mến

Trong 5 đoạn văn “người môn đệ Đức Giêsu yêu mến” xuất hiện trên đây, có những nơi trình thuật nói gọn: “Người môn đệ” (ho mathêtes), xuất hiện 3 lần (19:27; 21:23.34) hay “môn đệ khác” (ho allos mathêtês), xuất hiện 4 lần (20:2.3.4.8). Trong mạch văn, những cách gọi trên ám chỉ rõ ràng đến “môn đệ Đức Giêsu yêu mến”, không thể lẫn lộn với các môn đệ vô danh khác. Trong tên gọi môn đệ Đức Giêsu yêu mến, có 4 lần dùng động từ “agapaô” (yêu mến) ở 13:23; 19:26; 21:7.20 và 1 lần dùng động từ “phileô” (thương mến) ở 20:2. Xem ý nghĩa cách dùng hai động từ “agapaô” (yêu mến) và “phileô” (thương mến) trong Người môn đệ Đức Giêsu yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai?, tr. 101-112.

Về danh xưng “môn đệ Đức Giêsu yêu mến”, người ta thường gọi môn đệ này là “môn đệ được yêu” (le disciple bien-aimé, the beloved disciple), hay gọi là “môn đệ Chúa yêu”. Tuy nhiên, những cách gọi tắt này che khuất nét độc đáo văn chương của bản văn. Thực vậy, trong 5 lần người môn đệ này xuất hiện trong Tin Mừng Giăng như đã trình bày, 1 lần ở 19,26 hiểu ngầm tên Đức Giêsu: “môn đệ Người yêu mến” (hon agapa), còn 4 lần khác đều có tên Đức Giêsu (ho Iêsous) trong tên gọi “môn đệ Đức Giêsu yêu mến”. “Đức Giêsu” là chủ từ của động từ “yêu mến” (agapaô - phileô). Tên của Đức Giêsu (ho Iêsous) là điểm độc đáo trong danh xưng “người môn đệ Đức Giêsu yêu mến”.

Thật vậy, nếu gọi người môn đệ này là “môn đệ được yêu” thì chưa nói rõ là được ai yêu. Nếu gọi là “môn đệ Chúa yêu” thì cũng không chính xác, vì bản văn không dùng từ “Chúa” (ho kurios) nhưng dùng tên gọi Đức Giêsu (ho Iêsous). Thiết nghĩ nên gọi cách đầy đủ người môn đệ này là “môn đệ Đức Giêsu yêu mến”, vì tên gọi này có ý nghĩa thần học quan trọng. Về phía Đức Giêsu, tên gọi này xác định rõ tình yêu của Đức Giêsu dành cho môn đệ này. Về phía người môn đệ, chính tình yêu của Đức Giêsu làm nên tên gọi của mình. Tình yêu của Đức Giêsu là căn tính của người môn đệ này. Nói cách khác, người môn đệ này hiện hữu, sống và tồn tại nhờ tình yêu của Đức Giêsu.

Hơn nữa, tên gọi đầy đủ “môn đệ Đức Giêsu yêu mến” gợi đến tình yêu của Đức Giêsu dành cho tất cả các môn đệ khác theo thần học Tin Mừng thứ tư. Thật vậy, mở đầu phần thứ hai sách Tin Mừng (Giăng 13–21) người thuật chuyện cho biết: Đức Giêsu đã yêu mến những kẻ thuộc về mình và Người yêu mến họ đến cùng (13:1). Đến 15:13, Đức Giêsu khẳng định: “Tình yêu cao cả này thì chưa ai có, đó là người đã hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu của mình” (15:13). Đức Giêsu yêu mến các môn đệ đến nỗi hy sinh mạng sống mình vì họ.

Như thế, tình yêu Đức Giêsu dành cho “môn đệ Người yêu mến” được đặt trong bối cảnh tình yêu của Người dành cho tất cả những kẻ thuộc về Người. Tên gọi đầy đủ “Môn đệ Đức Giêsu yêu mến” làm nổi bật tình yêu của Người dành cho tất cả các môn đệ khác. Nói cách khác, tình yêu của Đức Giêsu dành cho tất cả các môn đệ được cụ thể hoá nơi môn đệ Người yêu mến.

Theo thần học Tin Mừng Thứ Tư, người đọc qua mọi thời đại được mời gọi đồng hoá với người môn đệ Đức Giêsu yêu mến. Mọi người tin đều được Đức Giêsu yêu mến và được mời gọi bước vào tương quan tình yêu và nhận biết thầy như “người môn đệ Đức Giêsu yêu mến” trong Tin Mừng thứ tư. Như thế, người môn đệ này là một nhân vật biểu tượng để mọi người nỗ lực trở thành người môn đệ Đức Giêsu yêu mến như người môn đệ này.

Đồng thời, Tin Mừng Thứ Tư nói về nhân vật “môn đệ Đức Giêsu yêu mến” như là một nhân vật lịch sử. Chính môn đệ này là một chứng nhân có uy thế đối với cộng đoàn, vì người môn đệ này đã hiện diện dưới chân thập giá và là người đã làm chứng về những gì đã thấy và đã nghe (19:35; 21:24).

Kết luận


Tóm lại, có thể nói đến bốn môn đệ vô danh trong Tin Mừng Thứ Tư: (1) Môn đệ không được nêu tên trong hai môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu (1:35-39). (2) Môn đệ vô danh quen biết vị thượng tế, môn đệ này đã dẫn Phêrô vào dinh Khanan trong đêm Đức Giêsu bị bắt (18:15-16). (3) Một trong hai môn đệ vô danh ở 21:2. (4) Môn đệ Đức Giêsu yêu mến là môn đệ vô danh và có vai trò đặc biệt trong Tin Mừng Giăng.

“Người môn đệ Đức Giêsu yêu mến”
trổi vượt trên tất cả các môn đệ khác về năm lĩnh vực:

- TÌNH YÊU. Chính tình yêu của Đức Giêsu làm nên tên gọi của người môn đệ này, và người môn đệ này cũng bày tỏ tình yêu dành cho Đức Giêsu.

- LÒNG TRUNG TÍN.
Người môn đệ này can đảm hiện diện dưới chân thập giá.

- LÒNG TIN. Sau khi thấy ngôi mộ trống, người môn đệ này “đã thấy và đã tin” dù chưa thấy Đức Giêsu Phục Sinh.

- SỰ HIỂU BIẾT.
Người môn đệ này là người trước tiên trong nhóm các môn đệ nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh trên bờ biển hồ Tibêria.

- LÀM CHỨNG.
Lời chứng có uy tín của người môn đệ này bảo đảm tính xác thực của nội dung mặc khải trong sách Tin Mừng.

Với tất cả những đặc tính trổi vượt trên, Tin Mừng Giăng mời gọi độc giả qua mọi thời đại hãy sống và hãy đi vào tương quan với Đức Giêsu như người môn đệ này. Có thể xem phân tích chi tiết về “bốn môn đệ vô danh” cùng với lập trường của các tác giả trong tập sách Người môn đệ Đức Giêsu yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai?, tr. 91.177. Bài viết “Tông đồ Gioan” trong Tin Mừng Nhất Lãm và “người môn đệ Đức Giêsu yêu mến trong Tin Mừng thứ tư cũng đã trình bày phần nào về người môn đệ rất đặc biệt này trong Tin Mừng Thứ Tư.

Ngày 21 tháng 08 năm 2011

Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Trang đầu << 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10  ... >> Trang cuối