Ngày 9-6-2013 : CON TRAI BÀ GÓA NAIN SỐNG LẠI (Luca 7:11-17 )

6/8/2013 10:32:11 AM

Sự hiện diện của Đức Giêsu giữa lòng nhân loại chính là sự hiện diện của Thiên Chúa cứu độ.

Gs. PX Vũ Phan Long, ofm

1.- Ngữ cảnh
 
Sau bài diễn từ trong đồng bằng, Đức Chúa Giêsu đi vào Ca-bê-na-um. Tại đây Người chữa lành một người nô lệ sắp chết (7:1-10). Do đó, ta có thể thấy có một sự tiến triển từ truyện ấy đến truyện đọc hôm nay: ở 7:1-10, ta ghi nhận là tại Ca-bê-na-um, Đức Chúa Giêsu chữa lành  một người nô lệ “gần chết”; ở 7:11-17, tại Nain, Đức Chúa Giêsu  cho một thanh niên, con một bà góa, đã chết, được “trỗi dậy”.

Hai dấu chỉ này lại không tách biệt với những gì đến sau: trong câu trả lời cho những người được Gioan cử đến, Đức Chúa Giêsu gửi họ trở lại với những phép lạ cho người chết sống lại (7:22). Như vậy, chức năng của hai truyện Ca-bê-na-um và Nain đã rõ: tác giả dùng để chuẩn bị cho câu hỏi về chân tính của Đức Chúa Giêsu và câu trả lời của chính Người. Nhờ hai hành vi quyền lực này cũng như những cuộc chữa lành khác (x. 7:21), Đức Chúa Giêsu có thể nói: anh em cứ nhìn xem những gì tôi đã làm! Nhưng việc nếu người ta có thể nhận biết Người là bởi vì các phép lạ đáp lại một sự chờ đợi này được gây nên bởi một lời hứa: trong câu trả lời, Đức Chúa Giêsu nhắc lại bản văn Isaia đã đọc tại hội đường Nadarét, cũng như những bản văn khác (x. Êsai 26:19; 29:18; 35:5-6; 61:1), để nói lại lần nữa rằng trong tất cả những chuyện này, phải thấy là các lời ngôn sứ được ứng nghiệm. Đàng khác, nếu rảo qua tất cả các xen nằm trong Lc 7:1–7:49, ta thấy rõ toàn khối có tính thống nhất: từ đầu cho đến cuối chương 7 này, đề tài là tư cách ngôn sứ của Đức Chúa Giêsu và những dấu chỉ cho phép nhận ra Người. Để thấy được diểm này, ta có thể so sánh Lc 7:1-10 // 7:11-17; 7:18-23 // 7:24-28; 7:29-35 // 7:36-49.

 2.- Bố cục

 Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Giới thiệu các nhân vật (7:11-12);
2) Hành động của Đức Chúa Giêsu (7:13-15);
3) Phản ứng của dân chúng: ca ngợi và phổ biến (7:16-17).

3.- Vài điểm chú giải

- Nain (11): Một thành ở về phía nam Galilê, chỉ được nhắc đến ở đây trong Kinh Thánh. Thành ở không xa Enđo về phía tây bắc của Nêbi Đahi, một quả đồi ở giữa Ghinbôa và núi Tabo, cách Nadarét về phía tây nam vài dặm.

- Bà đừng khóc nữa (13): Dạng mệnh lệnh hiện tại có nghĩa là “Bà đừng tiếp tục khóc nữa!”. Đức Chúa Giêsu không ngăn cản nỗi đau của một người mẹ, nhưng khuyên bà như thế là nhắm đến hành vi Người sắp làm.

- ngôn sứ (16): Hẳn là sự kiện này nhắc nhớ đến sự việc ngôn sứ Êlia cho người con một của bà góa Sarépta sống lại. Có thể so sánh 1 V 17:20 // Lc 7:12; 1 V 17:17.20 // Lc 7:12; 1 V 17:22 // Lc 7:15; 1 V 17:23 // Lc 7:15; 1 V 17:24 // Lc 7:16. Sau này chính tác giả Lc cho thấy đám đông coi Đức Chúa Giêsu là Êlia của thời cuối cùng (9,18).

- Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người (16): Câu này nhắc lại minh nhiên câu mở đầu và câu kết của bài Benedictus (1:68.78). Có lẽ tác giả thấy trong cả hai trường hợp, có việc ban tặng một người con: cho Dacaria và Êlisabét đã lâu vẫn xin có được một con trai, và cho bà góa vừa mất đứa con một.

4.- Ý nghĩa của bản văn


* Giới thiệu các nhân vật (11-12)

 Bài tường thuật bắt đầu với việc giới thiệu các nhân vật qua hai bước (= hai thì). Câu 11 cho thấy Đức Chúa Giêsu đang tiến về một thành gọi là Nain, có các môn đệ và một đám đông cùng đi với Người. Còn c. 12 thì kể rằng khi Đức Chúa Giêsu đến cửa thành thì gạp một người chết là con trai một, được đưa đi chôn, mẹ của anh là một bà góa, và một đám đông đáng kể của thành đi với bà.
          
Chúng ta ghi nhận sự song đối: có hai đám đông, nhưng đi theo hai hướng đối ngược. Đây là hai nhóm người không có gì chung cả: những người thuộc nhóm thứ nhất đi theo một người có uy quyền, còn những người thuộc nhóm thứ hai đi theo một người chết.

* Hành động của Đức Chúa Giêsu (13-15)

Chúng ta không biết gì về tình cảm của cả hai nhóm. Nếu tác giả không ghi lại các tình cảm của những người đi theo người chết cũng như phản ứng của các môn đệ nhằm lưu ý Đức Chúa Giêsu về tình trạng bất hạnh của bà góa, thì không phải là vì ngài quên, nhưng ngài muốn nêu bật kết quả: phần giới thiẹu ngắn gọn và hoàn toàn khách quan, bề ngoài, về các nhân vật, nhằm giúp tập trung chú ý vào lòng thương cảm của Đức Chúa Giêsu: Người là chủ ngữ của tất cả các động từ trong cc. 1-15: thấy, chạnh lòng thương/đầy lòng tắc ẩn (splanchnizomai: ruột gan quặn thắt), nói (với bà góa), lại gần, sờ, nói (với người chết), trao anh ta cho bà mẹ. Cũng như trong truyện Xa-chê (Lc 19,1tt), chính sáng kiến của Đức Chúa Giêsu gây ra sự cố: nếu Đức Chúa Giêsu đi qua mà không dừng lại trước bà góa hoặc không ngỏ lời với ông trưởng nhóm thu thuế, thì hẳn là chẳng một ai trong những nhân vật ấy đã được nếm cảm niềm vui. Trong cả hai trường hợp, lời Đức Chúa Giêsu nói cho thấy Người hiểu thấu trái tim con người hoặc Người vén mở cho thấy dần dần căn tính của con người. Quả thật, chính Đức Chúa Giêsu nói lên ý thức về nỗi phiền muộn của người phụ nữ: “Bà đừng khóc nữa!” (c. 13), và về tuổi tác của người chết: một người thanh niên (c. 14)! Đặc biệt lời Người nói có sức mạnh vô song, bởi vì tức khắc điều Người truyền đã xảy ra: từ lời quyền năng của Người trào vọt ra mọi thay đổi tiếp đó. Ta ghi các lời nói tuôn trào từ lời của Đức Chúa Giêsu: “Đức Chúa Giêsu nói: Hãy trỗi dậy! Người chết liền … bắt đầu nói … Mọi người đều nói: Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện … Lời này (logos) được đồn ra trong khắp cả miền Giuđê”. Tác giả đã đưa chúng ta chuyển đi từ cái nhìn trên nhóm người đi đưa đám sang chú ý vào Đức Chúa Giêsu bằng cách gọi Người là “Chúa” (kyrios, c. 13). Ngài không nói trong tư cách là người tường thuật một sự kiện, một biến cố, nhưng trong tư cách tín hữu. Đối với tác giả, chính chúa tể của sự sống và sự chết  đang ngỏ lời với bà góa. Có hai chi tiết khiến ta nhờ đến bài thánh ca Benedictus: Lòng trắc ẩn của Đức Chúa Giêsu (1:78: “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn”) và lời của dân chúng: “Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người” (7:16; x. 1:68: “đã viếng thăm cứu chuộc dân Người”). Từ đó, có thể nói: khi Đức Chúa Giêsu cứu chữa vì lòng trắc ẩn, Thiên Chúa đã đến gặp dân Ngài. Chính dân Israel đã đón Thiên Chúa đến viếng thăm (7:17).

Cũng cần ghi nhận một điểm nữa. Vừa giới thiệu xong hai nhóm, tác giả ghi nhận một hành động của Đức Chúa Giêsu: “trông thấy bà, idơn autçn” (c. 13a). Không phải người chết khiến Đức Chúa Giêsu phải động lòng thương, nhưng là người mẹ đang khóc. Chính do ghi nhận này của tác giả mà người đọc hiểu rằng bà đang yêu thương và đang đau khổ như chỉ một người mẹ mới có thể đau khổ, và chính nỗi đau đớn này khiến trái tim của Đức Chúa Giêsu không chịu nổi. Chuyện người chết bắt đầu nói cũng không quan trọng gì ở đây, vì điểm nhắm là người mẹ đau khổ như bản văn nối tiếp cho thấy: c. 13a, “Chúa chạnh lòng thương bà”; c. 15b, “Đức Chúa Giêsu trao anh ta cho bà mẹ”. Chúng ta ghi nhận rằng chủ ngữ của động từ “chạnh lòng thương” là “Chúa” (trong phép lạ cho con gái ông Gia-ia sống lại, chủ ngữ luôn là “Đức Chúa Giêsu”: 8:40.41.45.46.50): dường như tác giả muốn nêu bật tư cách Mêsia của Đức Chúa Giêsu, hơn là chiến thắng của Người trên sự chết. Như vậy, việc cho người con trai của bà góa sống lại được coi như một trong các kỳ công của Đấng Mêsia, nhằm chứng thực cho sứ vụ của Đức Chúa Giêsu (x. Lc 7:19: Giăng sai các môn đệ đến hỏi “Chúa”). Tuy nhiên, cả hai lần từ “Chúa” xuất hiện đều thuộc về người kể truyện. Lý do: tác giả muốn giữ một khoảng cách so với tiếng nói của những người có mặt (các môn đệ và đám đông), vì họ đang tung hô Người là “một vị ngôn sứ vĩ đại” (7:16). Tác giả vừa duy trì ý kiến chung của mọi người coi Đức Chúa Giêsu là “ngôn sứ vĩ đại” (c. 17: “Lời này về Đức Chúa Giêsu…”), vừa đưa vào một sự hiểu biết mới mẻ và đúng đắn hơn về Đức Chúa Kitô.

Người phụ nữ trở thành mẹ vào lúc bà đón nhận người con trai từ tay Đức Chúa  Giêsu, khi bà đón lấy làm con người thanh niên vừa nhận sự sống không phải từ bà nữa nhưng từ Đấng Tạo hóa: từ cử chỉ của Đức Chúa Giêsu, cả bà lẫn chàng trai nhận được chân tính là mẹ và là con. Tác giả vẫn không muốn nói về các tình cảm của bà mẹ, chẳng hạn hy vọng trước khi phép lạ xảy ra và tri ân sau khi người con đã được trả lại vì ngài chỉ nhắm làm cho mọi người biết rằng mọi chuyện đều được Đức Chúa Giêsu biết và làm cho xảy ra.

* Phản ứng của dân chúng: ca ngợi và phổ biến (16-17)

 Tuy không nói gì về các tâm tình của hai mẹ con, tác giả Lc không làm cho ta nghĩ họ là những con người vô ơn: bản văn nhấn mạnh rằng “mọi người” không ngoại lệ “tôn vinh Thiên Chúa” (c. 16), và cũng như ở Lc 19:7, tính từ “mọi / tất cả [người]” (pantes) có một ngoại diên tối đa bao hàm cả người phụ nữ và chàng trai.

Cho dù trong cc. 16-17, Đức Chúa Giêsu không nói cũng không hành động nữa, Người vẫn hiện diện, hoặc thậm chí hiện diện khắp nơi, bởi vì danh tiếng Người tràn lan ra đến tận biên cương xứ Paléttina. Lời Người nói cũng như việc Người làm nay biện minh cho việc dân chúng nhìn nhận Người là “ngôn sứ” như Êlia (1 V 17:17-24 LXX) của thời đại cuối cùng (x. Lc 9:18) và sự kiện danh tiếng Người được đồn thổi khắp nơi. Cuối cùng, Thiên Chúa cũng được ca ngợi là “đã viếng thăm dân Người”. Câu 16c này rõ ràng nhắc lại lời mở và kết của bài Benedictus (1:68.78). Việc Đức Chúa Giêsu đi ngang qua được coi như là việc Thiên Chúa viếng thăm nhằm cứu độ dân Ngài.


+ Kết luận

 Trong bài tường thuật này, các hàng rào bị phá vỡ. Đức Chúa Giêsu chạm tới thi hài, ngược lại mọi luật lệ về trong sạch (x. Ds 19:11-16). Nhưng ở một độ sâu hơn nữa, Người triệt tiêu giới hạn giữa sự chết và sự sống, bằng cách làm cho chàng trai sống lại và ban lại niềm hy vọng cho ai đã hoàn toàn mất hy vọng. Thế rồi “lời” băng qua cổng thành và tràn lan khắp vùng. Ý nghĩa của phép lạ có tính phổ quát: có một Đấng có thể làm cho người chết sống lại. Việc triệt hạ các hàng rào mở ra một cửa sổ trên mầu nhiệm của Đấng, khi tỏ ra thương xót và biểu lộ ơn cứu độ cho dân Người, được nhìn nhận là vị ngôn sứ vĩ đại, đồng thời là Chúa tể của sự sống.

Bằng khả năng viết tài ba, tác giả Lc đã tiến hành bằng cách mô tả hai nhóm, rồi tập trung vào nhân vật chính là Đức Chúa Giêsu (phản ứng của Người, sáng kiến, lời năng động và các hậu quả), rồi ngay sau đó trở lại với nhóm đã được thống nhất (“mọi người”). Sự biến đổi không chỉ hệ tại việc đưa chàng trai trở về cõi sống, hay trong việc một người mẹ mất con nhận lại anh ta vẫn sống từ tay Chúa, nhưng còn trong sự kiện hai đám đông tách biệt nay hiệp nhất với nhau mà ca ngợi tôn vinh Thiên Chúa.

Phần các môn đệ, nếu các ông đã nhận ra Đức Chúa Giêsu là Đấng Mêsia của Thiên Chúa , điều này có nghĩa là Đức Chúa Giêsu đã làm những dấu chỉ cho phép các ông nhận ra Người. Do đó, các môn đệ sẽ phải bước theo Thầy trên nẻo đường đưa tới cái chết và cuộc tôn vinh, hầu cho hành vi nhận biết được nên thật.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Điểm quan trọng của bản văn không phải là người chết hoặc cái chết, hoặc việc trở lại cõi sống, nhưng là sự kiện một người mẹ, đã là góa bụa, lại vừa mất đứa con một và Đức Chúa Giêsu không chịu để cho bà phải khóc lóc. Việc trở về cõi sống không phải là mục tiêu mà sáng kiến Đức Chúa Giêsu nhắm tới. Hành động của Đức Chúa Giêsu đã kết thúc với một nhận xét đẹp: “Đức Chúa Giêsu trao anh ta cho bà mẹ” (c. 15). Chuyện người chết bắt đầu nói cũng không quan trọng gì ở đây, vì điểm nhắm là người mẹ đau khổ như bản văn nối tiếp cho thấy: c. 13a, “Chúa chạnh lòng thương bà”; c. 15b, “Đức Chúa Giêsu trao anh ta cho bà mẹ”.

2. Chúng ta có thể suy ngẫm về lời và cử chỉ của Đức Chúa Giêsu, một lời hết uy quyền  và một cử chỉ hết sức khả ái. Người đã gọi người chết trở về cõi sống và trao anh ta cho bà mẹ. Trong tư cách là Đấng Tạo hóa, Người đã ban cho anh sự sống rồi trao anh cho mẹ. Chính khi đó, người phụ nữ trở thành mẹ và chàng trai trở lại làm con.

3. Sự hiện diện của Đức Chúa Giêsu giữa lòng nhân loại chính là sự hiện diện của Thiên Chúa cứu độ. Sự hiện diện này không chỉ đưa lại sự an ủi, khích lệ, mà còn đưa lại sự sống, khôi phục sự sống và kiến tạo sự hiệp nhất. Chính những hiệu quả này giúp dân chúng nhận ra rằng Thiên Chúa đã đến viếng thăm họ nơi “vị ngôn sứ vĩ đại” này. Đấy hẳn cũng phải là điều các môn đệ của Đức Chúa Giêsu ở mọi thời phải chứng tỏ.

4. Lời đáp của đám đông mang dấu ấn là nỗi sợ hãi và tâm tình tôn vinh Thiên Chúa. Đây là phản ứng tiêu biểu của con người khi đứng trước sự biểu lộ của thế giới siêu việt, của Thiên Chúa (x. Lc 1:12.65; 2:9; 5:26), nỗi sợ hãi có kèm theo việc tôn vinh Thiên Chúa (Lc 2:20; 5:26; 13:13; 17:15; 18:43; 23:47), dấu chứng tỏ có hiểu biết về Thiên Chúa và đáp lại bằng lời cầu nguyện với mạc khải của Thiên Chúa.