VUI MỪNG VÀ HY VỌNG

11/30/2014 1:48:22 AM

VUI MỪNG VÀ HY VỌNG 

 


Năm Phụng vụ là chu kỳ thời gian biểu trưng sự can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại, từ khởi nguyên đến tận cùng. Với nhãn quan thần học nhìn vào lịch sử cứu độ, Phụng vụ không chỉ tưởng niệm các biến cố đã xảy ra, nhưng còn hiện tại hóa, làm cho các biến cố ấy đi vào đời sống đương đại một cách mầu nhiệm, đồng thời còn hướng vọng tới tương lai trông chờ ngày thẩm định chung cuộc. Nói cách cụ thể, năm Phụng vụ diễn tả lịch sử cứu độ, và tuyệt đỉnh của lịch sử này là mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giê-su Ki-tô. Khởi đầu năm Phụng vụ là mùa Vọng (mùa trông đợi Chúa đến lần thứ nhất), kết thúc là lễ Chúa Ki-tô Vua Vũ Trụ (ngày Chúa quang lâm lần thứ hai – ngày chung thẩm). Như vậy có thể hiểu Mùa Vọng cũng là thời gian tĩnh tâm và sám hối  trong suốt cuộc đời, để người Ki-tô hữu thể hiện niềm tin và hy vọng vào ngày chung thẩm sẽ được hưởng “sự sống muôn đời” (Mt 25:46).

 

Ở Việt Nam trước đây (khoảng 70 – 80 năm) vẫn gọi mùa Vọng là mùa Át. Đó là tiếng gọi tắt của từ La-tinh “Adventus”. Theo ngôn ngữ cổ, “Adventus” có một nghĩa chuyên môn, chỉ sự “đến” (viếng thăm một vùng dân cư) của vua chúa thời phong kiến, về mặt tôn giáo thì “Adventus” biểu thị ý nghĩa một thần minh “đến” với cộng đồng tín hữu. Giáo Hội quy định 4 Chúa nhật mở đầu năm Phụng vụ nhắm tới sự tỉnh thức đón chờ Chúa “đến”: Chúa nhật thứ nhất đề cao thái độ tỉnh thức và sẵn sàng đón chờ Chúa quang lâm. Các Chúa nhật còn lại thì trưng dẫn những mẫu gương của những người đón chờ Chúa Cứu Thế. Chúa nhật thứ hai và thứ ba giới thiệu thánh Giăng Báp-tít, người dọn đường cho Chúa đến không những chỉ bằng lời giảng sám hối và thực hiện phép rửa, mà còn bằng chính cuộc đời khổ hạnh và trung trực của mình (bị Hê-rốt giết – xc Mc 6:17-29). Chúa nhật thứ tư được dành cho Đức Maria. Đức Maria giữ một vai trò rất lớn lao, rất quan trọng trong lịch sử cứu rỗi.

 

Như vậy cả 4 Chúa Nhật đều nêu bật tinh thần trông chờ hy vọng Chúa Cứu Thế đến trong thế gian. Vì thế Giáo Hội Việt Nam dịch tiếng Adventus là Vọng, 4 Chúa nhật trông đợi Chúa đến là mùa Vọng. Mùa Vọng là mùa trông chờ, hy vọng Đức Vua Giê-su Ki-tô “đến” lần thứ nhất (giáng trần cứu thế) và Người lại “đến” lần thứ hai trong vinh quang ở ngày chung thẩm (tận thế). Sách hướng dẫn chỉ rõ: “Hằng năm khi cử hành phụng vụ Mùa Vọng, Hội Thánh hiện tại hóa niềm mong đợi Đấng Mê-si-a: khi hiệp thông với việc chuẩn bị lâu dài cho Đấng Cứu Thế đến lần thứ nhất, các tín hữu làm bừng sáng niềm khát khao mong mỏi Người đến lần thứ hai.”

 

Lúc con người đặt trọn vẹn niềm tin của mình vào Thiên Chúa, thì lời hứa (Giao Ước) của Thiên Chúa chính là sự trao ban hy vọng cho con người. Dân Chúa thời Cựu Ước đã tin tưởng mãnh liệt vào lời hứa “chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.” (Êsai 7:14). Mùa Vọng chính là dấu chỉ thời điểm Cựu Ước trông chờ và hy vọng vào Lời Hứa của Thiên Chúa, và Lời Hứa ấy đã được thực hiện cách đầy hơn 2000 năm tại hang đá Bê-lem. Bước sang thời Tân Ước thì các tín hữu được nhắc nhở “chúng ta hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn, vì trong lòng thì đã được tẩy sạch mọi vết nhơ của lương tâm, còn ngoài xác thì đã được tắm rửa bằng nước tinh tuyền. Chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, vì Đấng đã hứa là Đấng trung tín” (Dt 10:22-23). 

 

Với “một đức tin trọn vẹn... tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng vào Đấng đã hứa là Đấng trung tín”, đó phải chăng là “Đức Tin và Hy Vọng” – chúng ta được cứu rỗi nhờ hy vọng, Thánh Phao-lô đã nói như thế với dân chúng thành Rô-ma, cũng như với chúng ta (Rm 8:24). Theo niềm tin Ki-tô, “ơn cứu chuộc” – hay ơn cứu độ – không chỉ đơn giản là một điều được trao ban. Ơn cứu chuộc được ban cho chúng ta theo nghĩa là chúng ta đã được trao cho hy vọng – một niềm hy vọng đáng tin cậy, qua đó chúng ta có thể đối diện với thực tại của chúng ta: thực tại mà cho dù là cam go đi nữa cũng có thể sống được và chấp nhận được nếu nó dẫn đến một mục đích, nếu chúng ta có thể được bảo đảm về mục đích này, và nếu mục đích này cao cả đến mức biện minh được cho nỗ lực của cuộc hành trình.”

 

Điều đó cho thấy giữa đức tin và hy vọng luôn có một tương quan mật thiết, đến độ có thể nói “Đức Tin là Hy Vọng” (“chúng ta cần lắng nghe gần hơn một chút với chứng tá của Thánh Kinh về hy vọng. “Hy vọng”, thực ra, là một từ chủ yếu trong Thánh Kinh – đến mức trong nhiều đoạn những từ “đức tin” và “hy vọng” dường như có thể hoán chuyển cho nhau. Vì thế Thư Do Thái liên kết chặt chẽ “sự viên mãn của đức tin” (Dt 10:22) với “sự tuyên xưng cách quả quyết niềm hy vọng của chúng ta” (Dt 10:23). Cũng thế, trong thư Thứ Nhất khi Thánh Phêrô khích lệ các Kitô hữu hãy luôn luôn sẵn sàng đưa ra câu trả lời liên quan đến logos – ý nghĩa và lý do – cho niềm hy vọng của họ (1Pr 3:15), từ “hy vọng” là tương đương với “đức tin”.

 

Rõ ràng, con người khi đã “ngộ” ra được niềm tin của mình đặt đúng nơi chốn, đúng đối tượng, sẽ có nguồn hy vọng được thắp sáng bởi chính niềm tin ấy. Hy vọng đã có, nhưng chủ thể mang niềm hy vọng ấy cần phải biết trau giồi, củng cố cho hy vọng ngày một bền chặt, vững mạnh hơn. Bẳng cách nào? Chính là bằng cách kiên trì đưa niềm tin ấy vào trong suy tư và hành  động (“Đức tin không thể hiện ra hành động là một đức tin chết” – Gc 2,17 ), để đưa niềm tin ấy từ khách thể trở thành máu thịt của chủ thể, ở chỗ biến niềm tin thành một trong những nhân đức nhân bản của con người, với Ki-tô hữu thì đó là nhân đức đối thần: Đức Tin.

 

Nói thì có vẻ đơn giản, nhưng đụng vào thực tế muôn hình ngàn trạng, muôn chiều muôn hướng của cuộc sống con người hiện nay, thật không dễ chút nào. Đức tin bị nghiêng ngả, hụt hẫng, chao đảo cũng là vì thế. So sánh thế kỷ XXI với thế kỷ I cũng chẳng khác bao nhiêu, có khác chăng là ở chỗ sự hời hợt trong đức tin và niềm hoài nghi trong hy vọng còn trầm trọng hơn. Rõ ràng, muốn “ngộ” được hy vọng, chắc chắn phải cậy trông vào ơn soi sáng, dẫn dắt bởi Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, phải biết cầu nguyện, bởi vì “Bối cảnh thiết yếu đầu tiên cho việc học hỏi hy vọng là cầu nguyện. Khi không còn ai lắng nghe tôi nữa, Chúa vẫn nghe tôi. Khi tôi không còn có thể tâm sự hay kêu cầu được với ai, tôi luôn luôn có thể thưa với Chúa. Khi không còn ai giúp tôi biết xử sự thế nào trước nhu cầu hay mong đợi vượt quá khả năng hy vọng của con người, Chúa có thể giúp tôi. Dù tôi bị đắm chìm ngập lụt trong cô liêu hoàn toàn...; nếu tôi cầu nguyện thì tôi không bao giờ hoàn toàn đơn côi.” 

 

Con người ta sống ở đời không thể không có hy vọng, dù cho đó là một con người không có niềm tin tôn giáo, thì niềm hy vọng của họ vẫn là cái tương lai của cuộc đời họ mà họ luôn mong ước, hy vọng được tươi sáng và hạnh phúc. Kinh nghiệm cho thấy trong cuộc đời này, mọi chuyện, mọi sự rồi cũng sẽ qua đi, sẽ mai một… và điều còn lại duy nhất cần phải có đó là niềm hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu ở đời sau. Chính niềm hy vọng này là động lực giúp người Ki-tô hữu sống một cuộc sống luôn hướng về một ngày mai tươi sáng trong niềm tín thác vào Đấng Cứu Thế. Nói cách cụ thể “Chúng ta có thể nghĩ một cách hợp lý rằng số phận mai sau của nhân loại nằm trong tay những người có khả năng trao cho hậu thế những lý do để sống và để hy vọng.” Để thắp sáng niềm hy vọng vào tương lai, nền Giáo dục Ki-tô giáo là phải luôn luôn và mãi mãi hỗ trợ, thúc đẩy cho đức tin trưởng thành nơi mỗi Ki-tô hữu, không phân biệt tuổi tác, giới tính, thành phần, giai cấp. Giáo dục Ki-tô giáo phải làm sao cho – ở nơi mỗi Ki-tô hữu – ĐỨC TIN là niềm HY VỌNG viên mãn và bất diệt

 

Tóm lại, có tin thì mới hy vọng, bởi chính "Đức Tin là Hy Vọng". Vậy thì người Ki-tô hữu còn đợi gì mà không thể hiện niềm “Hy Vọng” vào “Đức Tin” của mình qua hành động dọn đường cho Chúa đi, bằng cách bạt phẳng gò đống chia rẽ, phát quang chông gai hận thù, san bằng gập ghềnh ghen tị, và với một kiệu hoa rực rỡ hào quang Bác Ái trong Chân Lý đón Chúa vào lòng. Và như thế, thì tại sao chúng ta lại không duy trì 4 tuần Mùa Vọng bằng cả cuộc lữ hành trần thế này, để làm hành trang trông đợi ngày Chúa quang lâm lần thứ hai? Vâng, xin hãy bắt đầu ngay từ bây giờ, ngay từ hôm nay ngẩng cao đầu “tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng” (Dt 10:23), để mạnh dạn bước vào MÙA VỌNG – MÙA TRÔNG ĐỢI CHÚA ĐẾN – MÙA TRÔNG ĐỢI CUỘC SỐNG VĨNH CỬU mai sau. Ước được như vậy.

 

Ôi! Lạy Chúa! “Từ trần gian con ngước trông lên Chúa ơi, cầu xin hãy mưa Ðấng Thiên sai Chúa ơi, nghe lời van thiết tha. Ngày và đêm con vẫn van xin Chúa thương, Người ban ơn cứu rỗi yêu đương bốn phương cho đoàn con ngóng chờ. TK. 2- Xin mưa xuống trần gian Ðấng Cứu Tinh, phá mọi nghịch mưu xấu xa tội lỗi. Xin ban xuống đời con Chúa chí linh, nối lại tình thương thế gian Nước trời.”

 

JM. Lam Thy ĐVD.

Trang đầu << 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10  ... >> Trang cuối