ĐỐI THOẠI VỚI CÁC TÔN GIÁO PHƯƠNG ĐÔNG II

Phật giáo với các tôn giáo khác

Nói chung, thì Ấn Độ giàu tinh thần bao dung tôn giáo. Chẳng những hai giáo phái Visnu giáo và Siva giáo thờ lẫn thần của nhau, mà hai tôn giáo khác từ Ấn giáo thoát thai, dù chối bỏ Veda và các thần Ấn giáo, cũng vẫn sống chung hòa bình được với hai tôn giáo trên. Đúng là giữa đôi bên tân cựu từng có đấu tranh đấy, nhưng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng thôi.

Ngay hồi đầu, dù Đức Sakya Gautama phủ định các thần Veda như thế, nhưng khi một thầy bà la môn (tế sư trong Ấn giáo) thiện chí đến hỏi về con đường giải thoát, Ngài đã không khuyên ông rời bỏ Siêu việt thể Ấn giáo là Brahma (Bà la môn), nhưng khuyên đến với Brahma bằng tâm hồn không vướng bận, khi mà chính Siêu việt Brahma cũng không vướng bận (hình thức) do bản chất. Có điều, để đạt tới tình trạng không vướng bận như thế, Đức Phật dạy ông phương pháp Tứ diệu đế, dạy coi chúng sinh “bình đẳng”, đối xử với tất cả bằng tấm lòng từ bi.

Phật giáo đại thừa càng nhấn mạnh hơn vào sự từ bi hỉ xả nói trên, mà mẫu mực họ đề ra là các bồ tát. Có điều, một khi đi vào con đường tình thương như vậy, người ta cũng tiến sang một thứ tôn giáo tình cảm : Đức Phật đã trở thành như một vị Thần Chúa từ ái, sẵn sàng cứu khổ cứu nạn; còn tăng ni thì cũng luôn miệng Na mô cùng với tín đồ, phó thác tất cả trong tay Đức Thích ca. Phật giáo đại thừa đã gần lại với Bhakti Ấn giáo và Sùng mộ KTG.

Nhất nữa khi bên Trung Quốc, một ngành của Đại thừa tiến sang chủ trương Đốn ngộ. Đốn ngộ, nghĩa là không cần những bước đi chuẩn bị cùng với những bậc thang đi lên, mà chỉ cốt ngộ tính cao, để khi gặp duyên, một cái gì đập mạnh vào người chả hạn, giác ngộ sẽ vọt ra liền. Và như thế bất chấp cả Tam bảo, bất chấp cả tôn giáo luôn, có lẽ.

Thật ra, một vài kinh thư Phật giáo còn coi một số tôn sư tôn giáo khác như những bồ tát chính cống. Ngay Khổng giáo và Đạo giáo cũng được xem như những con đường hay phương pháp chúng biểu hiện Tứ diệu đế theo đường lối riêng.[14]

Thật ra, ngay khi Phật giáo xâm nhập Trung Quốc, Việt Nam,v.v., họ đã sống chung một cách hài hòa rất tự nhiên với Nho và Đạo, cả trên bình diện tư tưởng cao lẫn trong niềm tin đơn giản của dân chúng, như được thể hiện rất rõ trong những tiểu thuyết như Tây du ký. Vâng, trong niềm tin Tam giáo đồng nguyên ấy, đương sự không còn phân biệt rõ chổ nào là Đạo, chỗ nào là Thích hay Nho nữa.

*

Nếu Phật giáo đại thừa cởi mở nhất, thì Phật giáo nói chung cũng tiếp tục truyền thống bao dung của hồi đầu. Nếu có một hai người như Dharrmasiri của Sri Lanka chỉ trích học thuyết Cơ Đốc Giáo  về một vị thần vĩnh cửu và các linh hồn bất tử, thì phần đông học giả Phật giáo không thiết đề cập đến các vấn đề thuộc niềm tin mà họ coi là vô bổ. Riêng đức Đạt Lai Lạt Ma thì chơi thân với cả Công giáo và Tin Lành, lại hay bàn đến những vấn đề đạo đức mà các bên quan tâm, nhất là lòng từ bi hỉ xả. Theo ngài, các tôn giáo phải  đứng riêng  để đáp ứng những nhu cầu thiêng liêng rất khác nhau của những loại người khác nhau. Theo ngài, Cơ Đốc Giáo cứ việc đi sâu vào con đường của mình, đồng thời học hỏi ở các tôn giáo khác những gì giúp họ hoàn thiện chính mình họ. Vâng, mỗi tôn giáo là một con đường, và cứ đi đúng con đường ấy sẽ tới Thiên đường đối với Cơ Đốc Nhân và Niết bàn đối với Phật hữu.[15]

Nhà sư Buddhadasa thuộc Phật giáo tiểu thừa còn đi xa hơn nữa khi so sánh các tôn giáo như những dòng nước tuy mang theo chất khoáng khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là nước.  Có điều nước ở nền tảng của nó lại chỉ là H và O, nghĩa là Không-Nước. Điều ấy có nghĩa : Các tôn giáo gọi Chân lý bằng những tên khác nhau, có vậy thôi[16]. Và như thế, chủ trương của Buddhadasa là Đa nguyên (pluralism), cũng là Duy tương đối chủ nghĩa tôn giáo (religious relativism). Có điều đây lại là thứ cực đoan ngược lại với Loại trừ chủ nghĩa, và nó khiến cho tín đồ Cơ Đốc Giáo chưa nắm vững giáo lý sẽ mất phương hướng khi nghe thuyết pháp như vậy. Nói chung, thì Phật giáo rất bao dung. Phật giáo đại thừa lại không mấy quan tâm đến lý thuyết, mà chỉ cần thực hành (phương pháp và tu luyện) thôi. Theo một số người, không phải lý thuyết, mà kinh nghiệm huyền bí mới khiến ta gặp gỡ Sự Thực. Vâng, theo họ, người ta thường lẫn biểu trình (représentation) về Sự thực với chính Sự thực, y như lầm ngón tay chỉ mặt trăng với chính mặt trăng. Có điều về phương pháp, tức thực hành, phần đông lại nghĩ rằng chỉ Tứ diệu đế Phật giáo mới  giúp người ta đạt tới Sự thực đầy đủ. Và đây là chủ trương Thôn tính hay Thâu tóm (inclusivism).

Thái độ các tôn giáo tại Việt Nam

Xưa kia, tôi có dịp làm quen với nhiều nho gia chân chính, như cụ Nhất Thanh, cụ Đỗ Bằng Đoàn. Tuy họ quý tôi, nhưng thường không ưa cả Cơ Đốc Giáo lẫn Phật giáo. Có lẽ vì  trong lịch sử các triều đại, có vua thân Phật giáo, lại có vua thân Khổng giáo, do đó mà giữa hai phe thường có cạnh tranh về ảnh hưởng. Còn đối với Cơ Đốc Giáo, một số nhà nho chia sẻ thái độ của nhóm Văn thân, đó là ghét Tây nên cũng ghét các cố vì họ là người Tây, ghét lây Cơ Đốc Giáo vì nghĩ Cơ Đốc Giáo cũng chống Văn thân với Tây[17]. Riêng Cơ Đốc Giáo, do ảnh hưởng Do Thái, luôn khép kín đối với người ngoài đạo, nên giữa Cơ Đốc Giáo với Phật giáo và Cao đài, Hòa hảo, thường ít có trao đổi về mặt tôn giáo, còn giáo chúng đôi bên vẫn giao thiệp với nhau bình thường trong tình nghĩa xóm làng hay trên bình diện nghề nghiệp,v.v.

Dẫu sao, càng ngày những tiếp xúc tôn giáo càng năng xảy ra, nhưng thường chỉ có tính cách cá nhân hay nhóm hội. Có những nhà sư làm thơ tán tụng Đức Trinh nữ Maria, có những người Cơ Đốc Giáo thích đi nghe thuyết pháp, có những tu sĩ hoặc nhóm tu sinh Công giáo đi học thiền ở Trúc Lâm thiền viện, và có rất đông người thuộc các tôn giáo bạn đến khấn khứa ở các trung tâm hành hương Công giáo.

Sau công đồng Vatican II, Công giáo thế giới ngày càng thân thiện với các tôn giáo bạn.  Người ta mời các guru[18] hay thiền sư tới dạy thiền cho tu sinh, dạy về Ấn Độ giáo hay Phật giáo cho chủng sinh. Có những nhóm tu sinh nhân kỳ nghỉ hè đến sống chung với các nhà sư trong một ngôi chùa, có những tu sĩ như Henri Le Saux đến thọ giáo với guru và tu am với họ trong một thời gian khá lâu. Ở Việt Nam, thì một đan sĩ kia cũng từng đã thọ giáo sâu xa với hòa thượng Thích Thanh Từ như vậy. Hi vọng về lâu về dài, các nhà sư cũng sẽ đến tu chung với chúng ta trong các tu viện Công giáo và học hỏi về KTG một cách nghiêm túc hơn. Cố nhiên là hai bên chỉ có thể nhập định chung với nhau, chứ cầu nguyện hay tụng kinh thì mỗi bên phải làm theo cách riêng của mình.

Mở lối vào Đối thoại liên tôn

Những cánh cửa đã được mở ra cho đối thoại liên tôn dù ở chính Việt Nam. Nhưng đây chưa phải là cổng lớn, vì đại bộ phận các chức sắc tôn giáo còn thờ ơ với việc này, lại nhiều người tỏ ra nghi ngại khi thấy một số tu sinh trẻ đi vào giao tiếp bề sâu với phía bên kia. Cho nên đôi bên cần phải làm những cố gắng lớn để phá đi các rào cản và xóa tan những mặc cảm.

Mặc cảm về phía Cơ Đốc Giáo : cho rằng chỉ có mình nắm được chân lý, và con đường của mình là đường duy nhất dẫn tới đích. Dù sao thì chúng ta cũng đã nhìn nhận rằng : chân lý thành phần (partielle) có thể tiềm ẩn trong các tôn giáo khác; riêng những thần học gia tiến bộ thì chấp nhận có cứu độ (Cơ Đốc Giáo ) dù không đầy đủ cho những ai sống thuận với lương tri trong những tôn giáo nói trên, và rất có thể, nhờ những tôn giáo nói trên. Vâng, dù bao dung, chúng ta không thể trung thành với niềm tin mà không có chủ trương thâu tóm (inchusivism) như vậy.

Về phía Phật giáo, các nhà sư cũng cần xóa bỏ mặc cảm, cho rằng chỉ trong Ấn giáo và Phật giáo mới có huyền nghiệm (đại định), và huyền nghiệm bậc cao. Một lần kia, khi thuyết trình cho một cử tọa gồm nhiều chức sắc Cao đài, Phật giáo và Nho gia, tôi đã dựa vào các tác phẩm của Tiên sa Avila và Gioan Thánh giá mà trình bày về huyền nghiệm và huyền thị trong KTG. Nghe xong, tất cả đều ngỡ ngàng, không ngờ trong KTG cũng có huyền nghiệm, và huyền nghiệm cao như vậy. Vâng, chúng ta không nên hãnh diện về các hoạt dộng giáo dục, y tế, xã hội của Công giáo, cũng như việc đi nhà thờ đông đảo của giáo dân. Người Phật giáo và Cao đài giáo chỉ có thể kính ngưỡng chúng ta như một tôn giáo nhờ chiều sâu huyền nhiệm, chứ không phải ở cầu kinh và các hoạt động bên ngoài như thế đâu.

Cơ Đốc Giáo không thiếu huyền nhiệm, nhưng kỹ thuật đi vào chiều sâu thì chúng ta có thể học hỏi thêm ở các tăng ni. Chúng ta cũng mong muốn các tăng ni đi vào lý tính nhiều hơn, khi mà để hiểu họ và để họ hiểu mình, chúng ta cũng dùng đến trực giác và thứ ngôn ngữ huyền nhiệm nữa.

Vâng, thưa các đại đức, tuy Siêu việt không bị lẫn với ngón tay lý tính trỏ về phía Ngài, nhưng ít ra Ngài vẫn ở về phía mà ngón tay trỏ ấy trỏ về, chứ không phải ở phía khác. Và thưa các linh mục, tuy chúng ta vẫn nhìn nhận cái biết lý tính không tương bằng (thích đáng, inadéquat) với thực tại siêu nhiên và siêu việt, nhưng chúng ta lại ít chú tâm đến chữ Không trong In-adéquat ấy khi tưởng như mình nắm trọn được chân lý, nghĩa là nắm được nó một cách “rõ ràng và sáng sủa”, như 2 với 2 là 4 vậy.

Quả thật trong Cơ Đốc Giáo, những ai đã đạt tới huyền thị tuệ trí, như Tiên sa Avila và I Nhã Loyola đều chẳng thể diễn tả gì về cái họ kinh nghiệm cả, chỉ vì khi ấy lý trí bị ngưng, không hiểu gì để có thể nói gì. Đối với lý trí, thì Cái ấy (Tad) có gì như Vô vậy. Vâng, có lẽ chỉ trong huyền nghiệm, chúng ta mới tạm hiểu được  ý nghĩa chữ Vô của Đức Phật, của các rsi[19] Ấn giáo!

*

Một khó khăn nữa  cho đối thoại, đó là cử chỉ tôn kính đối với đối tượng thờ kính của nhau. Một lần kia khi tôi cùng với mấy đồng đạo vào vãng cảnh chùa, một nhà sư tới trao hương cho chúng tôi lễ Phật. Các bạn tôi thì khựng lại, còn tôi thì nghĩ : Tại sao không thể coi Đức Phật như một vị thánh, ít là một tiên tri như những tiên tri Cựu Ước? Và thế là tôi cứ vái hương. Chỉ cần không có xì căng đan, thế thôi. Xì căng đan là khi ai đó tưởng tôi thờ Phật như thờ Chúa vậy. Riêng đối với các tông phái Phật giáo đã coi Đức Phật như một vị Tối thượng rồi, thì chúng ta cũng có thể coi Buddha ấy như một thứ tên khác mà người ta dùng để gọi Đấng Tối cao, như Yaveh của người Do Thái và Allâh của đạo Hồi. Vâng, đúng Thiên Chúa thì Ngài đâu có tên, và ai có thể gói gọn Ngài trong một cái tên được nhỉ?

***

Giữa Cơ Đốc Giáo Việt chúng ta và Phật giáo, đối thoại diễn ra không phải như giữa những người khách suông. Cùng dòng dõi con Rồng cháu Tiên, chúng ta đã chẳng là anh em với nhau đấy ư? Chẳng những là anh em do huyết thống cách nào đó, mà còn anh em do văn hóa nữa. Chẳng những do văn hóa thường, mà còn do văn hóa-tôn giáo. Vâng, gia tiên của tôi đã từ trong Khổng, Phật mà quy thuận Chúa, cho nên đời sống đức tin của tôi đã được xây vững trên hệ gen của Trung hiếu nhà Nho, trên Từ bi hỉ xả và đức Nhẫn Phật giáo. Vậy, vừa phải nhớ ơn Khổng giáo và Phật giáo, tôi vừa phải nguyện cầu cho anh em trong hai đạo ấy được chia sẻ với tôi hạnh phúc trở thành con em đầy đủ hơn của Cha và Chúa chúng tôi.

Tôi cũng vui lòng đến với Phật giáo như những người học trò, học ở họ các kỹ thuật tu luyện mà Cơ Đốc Giáo từ Tây phương truyền đến còn thiếu. Chẳng có gì phải mặc cảm cả : Thiên Chúa chẳng đến ăn mày ở loài ngườ nhân tính của họ trước khi chia sẻ cho họ thiên tính của mình đó sao? Đứng trước họ, tôi cũng không có mặc cảm tự tôn, vì cái mà tôi nhận được từ Chúa đâu phải do công của tôi mà do ân của Chúa. Vâng, tôi chỉ may mắn hơn nhiều người Việt khác, -nói cho rõ hơn-, may mắn được Chúa gọi trước họ, thế thôi.

Một điều nữa nên học ở Phật giáo, đó là mở đạo ra, chứ đừng khép đạo lại trong bốn bức vách nhà thờ. Vâng, chúng ta chỉ lo “dạy dỗ con chiên” của mình thôi, chứ không cố đưa Tin mừng và tinh thần Tin mừng phổ ra bên ngoài trong thơ, tiểu thuyết, phim ảnh, sách báo và các nghệ thuật “đời” khác. Vâng, hãy thuyết đạo ra ngoài hơn là chỉ kéo người vào đạo!

******

HLV – Và cái khác biệt tối trọng đó là đức tin Cơ Đốc Giáo đặt tại Tin Mừng, Tin Mừng là chính Chúa Giê-xu. Chính Giê-xu Christ đã hiến tế trên Thập Giá, làm của lễ để chuộc tội cho nhiều người…Ngay bậy giờ Ngài cũng luôn hiện diện một cách rật đặc biệt nơi bàn tiệc thánh để ban chính Ngài cho những ai tin nhận Ngài. Ngài phán rằng: “Đây là thân thể ta vì các ngươi mà phó cho…đây bởi máu ta, máu của giao ước mới đã đổ ra để tha tội cho nhiều người, anh em hạy đến mà uống trong niềm tưởng nhớ đến ta!” các tôn giáo khác hay thế gian không bao giờ có được mầu nhiệm này.

Tin hay không tin thì Chúa Giê-xu vẫn hiện hữu sống động trong mỗi người tiếp nhận Ngài và là con của Ngài.

[1] Ra khơi xuất bản năm 1972.

[2] Nhị luật, 20.17-18.

[3] Nên nhớ, cả Pakistan va Bangla desh xưa kia cũng là đất Ấn Độ với tôn giáo chung là Ấn giáo.

[4] Ngành chính thống và cao thâm có trước Ấn giáo và nay lồng trong Ấn giáo cụ thể.

[5] Xx. Bhagavad-gitâ, ch.XIII và ch.VIII.

[6] Xx. Hoành Sơn, Đối thoại tôn giáo, tr. 74tt.

[7] Cũng như Ấn giáo coi hành động cúng tế giúp thanh tẩy tâm trí để di vào con đường tím giải thoát, thì Phật giáo cũng coi hành động luân lý có cùng giá trị thanh tẩy ấy.

[8] Xx. Francis X. Clooney s.j., Hindu views of religious others…,trong Theological studies, June 2003, tr.315,322.

[9] Xx. bài của Hoành Sơn năm 1969 trong tạp chí Bách Khoa nhân dịp bách chu niên ngày sinh của ông.

[10] Trong tinh thần Bài giảng trên núi, trước khi chết, như Đức Giêsu, ông đã xin tha cho kẻ làm hại mình.

[11] Gandhi, Collected works, 37.224.

[12] Dòng giống người Trung Đông, được cho là thuộc dòng dõi ông Sem, con của Noe.

[13] Xx. Clooney, sđd., tr.319, 320, 323tt.

[14] Xx. John Makransky, Buddhistm perspectives on truth in other religions, trong Theological studies, June 2003, tr. 349, 351-354.

[15] Xx. Makransky, sđd., tr.355;  Le Dalai-Latma parle de Jésus, do D. Labalanche dịch từ tác phẩm tiếng Anh của J-P.Ribes, tr.124-126.

[16] X. Makransky, sđd., tr.356.

[17] Phải công nhận rằng, nhiều nhóm Công giáo, vì bị Văn thân đẩy đến đường cùng, nên tạm dựa vào Tây để tự vệ.

[18] Tôn sư trong Ấn giáo.

[19] Các nhà huyền thị trong Bà la môn giáo cổ thời.